|
I. Vị trí địa lý và quá trình khảo sát, nghiên cứu, khai thác nguồn nước khoáng Thanh Tân
1. Vị trí địa lý
Nguồn nước khoáng Thanh Tân thuộc địa phận xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 21km về phía Tây Bắc. Từ trung tâm thành phố Huế, đi ngược theo Quốc lộ 1A 20km về hướng Bắc, đến ngã ba cầu An lỗ rẽ trái theo con đường rãi nhựa dài12km, ô tô đi thẳng tới Khu du lịch phục hồi sức khỏe nước khoáng Thanh Tân.
Đây là một nơi lý tưởng để du lịch-nghỉ dưỡng: đủ xa thành phố để tránh mọi sự ồn ào, náo nhiệt, nhưng vẫn đủ gần cố đô Huế để kết hợp nghỉ ngơi, luyện tập, chăm sóc sức khỏe với du ngoạn khảo sát văn hóa nghệ thuật của Huế- di sản văn hóa thế giới, thăm các khu du lịch thiên nhiên tuyệt đẹp như Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An, Đầm phá, và độc đáo với Nhà Vườn Huế, Nhà Cổ Phường Tích…; gần quốc lộ 1A và ở miền Trung nên vị trí của Thanh Tân rất thuận tiện để phục vụ đông đảo du khách từ miền Bắc vào, miền Nam ra (Con đường di sản miền Trung), gần tuyến du lịch Hành lang Đông Tây, Xuyên Á nên rất hấp dẫn đối với du khách Lào và Thái Lan .. Xem bản đồ vệ tinh:
http://maps.google.com/maps?f=q&source=s_q&hl=vi&geocode=&gl=vn&ie=UTF8&t=h&layer=x&g=T%E1%BB%A9+h%E1%BA%A1&ll=16.487818,107.381015&spn=0.009876,0.019248&z=16h
2. Một thoáng lịch sử
Sơ lược quá trình khảo sát, nghiên cứu, khai thác
Nguồn nước khoáng Thanh Tân đã được biết từ lâu, có tư liệu nói nước khoáng Thanh Tân được liệt kê trong danh sách 14 nguồn nước nóng phát hiện từ Quảng Bình đến Khánh Hòa, ghi trong bộ “Đại nam nhất thống chí” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1865-1882).
Người Pháp đã sớm lưu ý tới nguồn tài nguyên nước khoáng Đông Dương cũ, đặc biệt chú ý tới Việt Nam. Bác sĩ Sallet đã nói tới nguồn nước này trong 1 tài liệu xuất bản năm 1928 (Au sujet des sources thermales de l’Annam-Bull. de la Soc. Des Etudes Indochinnoises. Nouv serie TIII, No 1, p20, Saigon 1928) như một nguồn nước nóng.
Năm 1957, tiến sĩ địa chất H . Fontaine đã đưa nguồn nước Thanh Tân vào danh sách 55 nguồn nước ở miền Nam Việt Nam, phần lớn là nước nóng (Les sources thermominérales du Vietnam Mériditional. Arch. Géologiques du VN. No 4, Saigon 1957)
Năm 1962 , J Michaud, chuyên viên Cục Năng lượng nguyên tử Pháp đã khảo sát hoạt tính phóng xạ.
Sau năm 1975 đơn vị nghiên cứu nước khoáng thuộc Bộ Y tế Việt Nam (đặt tại trường Đại học Dược khoa Hà Nội) đã chú ý tới nguồn nước khoáng Thanh Tân, ngoài thành phần hóa lý, hoạt tính phóng xạ đã được khảo sát thêm bới các tổ chức chuyên môn: Đơn vị phóng xạ Y học Bộ Y tế, Viện Vật lý, Phòng Xét nghiệm Xạ hiếm Liên đoàn 10 Tổng Cục địa chất (năm 1979).
Năm 1983, Bộ Y tế nước CHXHCN Việt Nam đã cấp giấy phép khai thác sử dụng nước khoáng Thanh Tân phục vụ chữa bệnh và đóng chai làm nước giải khát.
Năm 1998 Công ty cổ phần Thanh Tân được thành lập từ Xí nghiệp nước khoáng Thanh Tân thuộc Công ty Dược Thừa Thiên Huế theo Quyết định số 577/QĐUB ngày 10.4.1998 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
Công ty đã tiến hành khảo sát và đã báo cáo nghiên cứu bổ sung đánh giá chất lượng và trữ lượng khai thác mỏ nước khoáng Thanh Tân tại Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia (quyết định số 4579/QĐ-HĐĐGTLKS ngày 29 .12.2000) và đã được Bộ Công nghiệp cấp giấy phép khai thác nước khoáng số 2003/GP- ĐCKS ngày 5.9.2001.
Hàng năm, công ty Thanh Tân đã tiến hành giám sát, tôn tạo, bảo vệ, khai thác mỏ nước khoáng Thanh Tân để sản xuất nước khoáng đóng chai và phục vụ du lịch phục hồi sức khỏe và chữa bệnh.
II. Đặc điểm nguồn nước khoáng Thanh Tân
1. Đặc điểm xuất lộ: Các mạch nước xuất lộ thành 2 cụm:
- Cụm 1 gồm nhiều điểm lộ chảy lên từ những khe nứt nhỏ trên gò đồi có độ cao khoáng 8m, có tổng lưu lượng 120m3/ngày, dùng để đóng chai và uống tại nguồn cho du khách và nhân dân địa phương.
- Cụm 2 gồm nhiều điểm lộ chảy vào suối nhỏ quanh chân đồi, tổng lưu lượng 500m3/ngày là nguồn cung cấp chính nước khoáng đùng để ngâm tắm và thực hiện các thủ thuật dùng nước khoáng bên ngoài khác
2. Tính chất và thành phần hóa học
Đối chiếu với các kết quả phân tích các năm 1957, 1977, 1991, 1995, 1999 và liên tục các năm 2000 đến nay, nhận thấy nguồn nước khoáng Thanh Tân rất ổn định.
Nhiệt độ: 64-68oC
Thành phần hóa học chính: Dưới đây là giá trị trung bình các kết quả phân tích trong nhiều năm các thành phần hóa học và tính chất hóa lý của nước khoáng thiên nhiên Thanh Tân
|
TT |
Cation |
Hàm lượng (mg/l) |
Anion |
Hàm lượng (mg/l) |
|
1 |
Na+ |
45 |
Cl- |
34 |
|
2 |
K+ |
8 |
F- |
1.5 |
|
3 |
Ca2+ |
160 |
HCO3- |
232 |
|
4 |
Mg2+ |
14 |
SO42- |
405 |
|
5 |
Fe2+, Fe3+ |
0.05 |
NO3- |
0.2 | - H2SiO3 : 70mg/l
- Tổng độ khoáng hóa (TDS): 860mg/l
- pH=7
Với tổng khoáng hóa 860mg/l , hàm lượng acid metasilicic 70mg/l, nhiệt độ 68oC, nước khoáng Thanh Tân được xếp vào loại nước khoáng có Silic, rất nóng.
Tác dụng chữa bệnh của nước khoáng Thanh Tân là tác dụng tổng hợp của tất cả các thành phần, trong đó Silic là thành phần đặc hiệu chính.
|